ĐẠI
HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
1. Giới
thiệu
Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) có tiền
thân là Trường cao đẳng công chính, được khai giảng lại dưới chính quyền cách
mạng vào ngày 15 tháng 11 năm 1945 theo sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghị
định của Bộ giáo dục và Bộ giao thông công chính.
Trong giai đoạn 1945 đến 1960, Nhà trường đã đào
tạo được nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao đẳng và trung cấp thuộc
các lĩnh vực giao thông, thuỷ lợi, bưu điện, kiến trúc phục vụ công cuộc kháng
chiến cứu quốc và phát triển đất nước.
Ngày 24 tháng 03 năm 1962, trường được chính thức
mang tên Trường Đại học GTVT theo quyết định số 42/CP của Hội đồng chính
phủ.
Ngày 27 tháng 04 năm 1990, cơ sở 2 của Trường tại
Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định số 139/TCCB của Bộ trưởng
Bộ giáo dục và đào tạo.
Ngày 15 tháng 11 đã trở thành ngày truyền thống của
Trường.
Tính đến thời điểm tháng 3 năm 2008 Trường có tổng
số 1037 cán bộ, giảng viên, công nhân viên. Trong đó có gần 763 giảng viên với
48 Giáo sư, phó giáo sư, 120 Tiến sỹ và tiến sỹ khoa học, 273 Thạc sỹ đảm nhận
đào tạo, quản lý gần 25.000 sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh thuộc
64 chuyên ngành Đại học, 15 chuyên ngành Thạc sỹ và 17 chuyên ngành Tiến sỹ.
Trường Đại học GTVT là trung tâm đào tạo, nghiên
cứu khoa học, chuyển giao công nghệ mới trong lĩnh vực GTVT của cả nước. Trong
60 năm qua Trường đã đào tạo được trên 40.000 Kỹ sư, trong đó có trên 200 Kỹ sư
cho hai nước bạn Lào và Campuchia, gần 1000 Thạc sỹ, Tiến sỹ trong đó có 40 Thạc
sỹ cho nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Các công trình giao thông lớn của đất
nước như đường 559, đường sắt thống nhất, cầu Thăng Long, Cầu Mỹ Thuận, hầm Hài
Vân, cầu Bãi cháy, các tuyến đường cao tốc,... đều có sự tham gia của cán bộ,
giảng viên và sinh viên của Trường.
Đổi mới cùng đất nước, thực hiện các nghị quyết của
Đảng, chính phủ,... Nhà trường đã có những đổi mới to lớn và mạnh mẽ về đào tạo,
nghiên cứu khoa học, xây dựng đội ngũ, xây dựng cơ sở vật chất,...
Phát huy truyền thống 60 năm qua, mục tiêu của
Trường đến năm 2010 và những năm tiếp theo sẽ trở thành Trường Đại học kỹ thuật
và kinh tế đa ngành với chất lượng và trình độ cao, đầu ngành trong lĩnh vực
Giao thông vận tải của đất nước, là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao
công nghệ lớn và có uy tín, từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và
trên thế giới.
2. Lịch
sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Giao thông vận tải ngày nay có
tiền thân là Trường Cao đẳng công chính thành lập từ năm 1918 dưới thời Pháp
thuộc, được khai giảng lại ngày 15/11/1945 theo Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Giai đoạn từ năm 1945 đến đầu năm 1960, Nhà trường thực hiện nhiệm vụ đào
tạo Cán bộ có trình độ Cao đẳng và Trung cấp Tháng 10 năm 1947, khoá đầu tiên
của Trường đã được khai giảng với 2 lớp Cao đẳng và 1 lớp Trung đẳng.
Trong điều kiện vô cùng ác liệt của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, Nhà trường phải sơ tán đến nhiều địa điểm, nhiều lần
đổi tên, chia tách hoặc sát nhập; nhưng nhà trường vẫn đảm bảo hoàn thành đào
tạo 12 khoá Cao đẳng và Trung cấp, cung cấp hàng trăm cán bộ kỹ thuật và quản lý
kinh tế cho ngành giao thông, Bưu điện, Thuỷ lợi; đóng góp những thành tích quan
trong cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Tháng Tám năm 1960, Bộ Giao thông vận tải quyết
định thành lập Ban Xây dựng Trường Đại học Giao thông vận tải . Ngày 1 tháng 12
năm 1960, khoá I của Trường Đại học Giao thông vận tải đã chính thức được khai
giảng với 117 sinh viên là các cán bộ lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật trung cấp của
ngành về học chuyển cấp các ngành Cầu, Đường sắt, Đường bộ, Bưu điện, Quản lý
công trình, Quản lý cơ khí. Đến năm sau có thêm lớp bưu điện chuyển về.
Ngày 24 tháng 3 năm 1962, Thủ tướng Chính phủ có
Quyết định số 42/CP chính thức thành lập trường Đại học Giao thông vận tải với
các nhiệm vụ chính là:
1- Đào tạo các loại cán bộ kỹ thuật cao cấp về
giao thông vận tải. Bổ túc cho cán bộ trung cấp kỹ thuật giao thông vận tải lên
cán bộ cao cấp kỹ thuật của ngành này.
2- Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo của ngành giao thông
vận tải nắm được những nguyên lý cơ bản về kỹ thuật cao cấp của ngành này.
3- Tổ chức và chỉ đạo việc học hàm thụ, học tại
chức, học ban đêm để đào tạo cán bộ kỹ thuật và nghiệp vụ về giao thông vận
tải.
4- Nghiên cứu khoa học và kỹ thuật về giao thông
vận tải.
Sau khi có quyết định thành lập trường, bộ máy
quản lý được hình thành gồm Ban Giám hiệu, các Khoa: Công trình, Cơ khí, Vận
tải; một số phòng, ban chức năng : Hành chính- Quản trị, Giáo vụ, Tổ chức nhân
sự..., và một số tổ bộ môn cơ bản, kỹ thuật cơ sở chuyên môn . Đảng bộ trường
lúc đầu mới chỉ là Chi bộ với 10 Đảng viên ( năm 1960), đến Đại hội lần thứ nhất
(ngày 12 tháng 1 năm 1962) đã trở thành Đảng bộ cơ sở với 199 Đảng viên gồm 13
Chi bộ ( 2 Chi bộ cơ quan và 11 Chi bộ sinh viên), rồi tăng lên 450 Đồng chí (
1963) . Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ, từ năm học 1961- 1962, Nhà trường đã
đưa nhiều lớp sinh viên đi thực tế, vừa học tập, vừa lao động phục vụ tại các cơ
sở trong và ngoài ngành. Giai đoạn 1961- 1965 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ
của phong trào “vừa học, và làm”, kết quả giảng dạy và học tập luôn gắn liền với
thực tiễn sản xuất. Nhiều bản thiết kế tốt nghiệp đã được ứng dụng có hiệu quả
trong sản xuất với chất lượng tốt. Quy mô đào tạo cũng tăng nhanh, lúc mới thành
lập mới chỉ có 4 ngành học với 117 sinh viên, đến năm học 1964-1965 đã có 13
ngành với tổng số sinh viên học tập tại trường lên đến 1.263 người. Cùng với đào
tạo tập trung, đào tạo tại chức cũng được đẩy mạnh và phát triển nhanh chóng.
Năm 1961, khai giảng lớp “6-1”- lớp tại chức ban đêm đầu tiên gồm 30 cán bộ kỹ
thuật của Tổng Cục đường sắt gửi sang học. Đến năm 1962 chính thức chiêu sinh
khoá 1 tại chức các ngành Cầu, Đường sắt, Đường bộ. Đến năm học 1965-1966 đã có
260 sinh viên thuộc hệ này, theo học 6 ngành. Ngày 5 tháng 8 năm 1964 Bộ Giao
thông vận tải đã ra quyết định thành lập Khoa Tại chức với đầy đủ bộ máy làm
công tác tổ chức quản lý giảng dạy, học tập hệ tại chức.
Chương trình, nội dung đào tạo lúc đầu còn nhiều
khó khăn; chủ yếu dựa vào các chương trình đào tạo của Liên Xô, Trung Quốc. Nhà
trường đã tổ chức nhiều hội nghị với các cán bộ phụ trách một số ngành của Bộ
Giao thông vận tải, các cán bộ ra công tác nhiều năm; toạ đàm trao đổi với các
trường bạn như đại học Bách Khoa, Sư phạm, Thuỷ lợi, Kiến trúc để xây dựng và
từng bước hoàn thiện mục tiêu, chương trình đào tạo.
Tài liệu giáo trình phục vụ giảng dạy của trường
lúc ban đầu chủ yếu là tài liệu cũ bằng tiếng Pháp, hoặc bài giảng viết tay của
giáo viên, sau đó đã tổ chức dịch một số tài liệu bằng tiếng Trung Quốc và biên
soạn một số tài liệu kỹ thuật mang tính phổ cập.
Việc thực tập, thí nghiệm của sinh viên dựa vào
Viện Thí nghiệm giao thông, các trường bạn ( Bách Khoa, Sư phạm). Mặt khác, Nhà
trường tổ chức cho giáo viên và sinh viên làm các mô hình về cầu thép, cầu bê
tông, trụ cầu..., mời các cán bộ có kinh nghiệm trong sản xuất về báo cáo, tổ
chức chụp ảnh tư liệu để phục vụ giảng dạy. Khi mới thành lập trường mới chỉ
có 19 Giáo viên sau đó đã tăng lên 50 rồi 100 người vào những năm 1963-1964, và
gần 300 người vào năm 1965-1966, gồm những đồng chí tốt nghiệp từ Liên Xô, Trung
Quốc, đào tạo từ các trường trong nước, có phẩm chất chính trị tốt, có năng lực
chuyên môn giỏi. Nhà trường đã chú trọng bồi dưỡng về chính trị tư tưởng, văn
hoá, khoa học kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ bằng nhiều biện pháp: tổ chức bồi
dưỡng ngoại ngữ, bồi dưỡng chuyên ngành, hội nghị chuyên đề, sinh hoạt học
tập...vừa tập trung, vừa tại chức. Tổ chức kiến tập, thực tập, dự giờ, thâm nhập
thực tế, kèm cặp giữa cũ và mới...; cử cán bộ ra nước ngoài học tập. Nhà trường
còn tranh thủ mời 4 chuyên gia Liên Xô sang giúp trường xây dựng chương trình,
nội dung đào tạo cho các kỹ sư ngành vận tải đường ô tô, đường biển và giúp bồi
dưỡng một số giáo viên cho các ngành này.
Công tác nghiên cứu khoa học trong giai đoạn này
cũng thu được những kết quả đáng phấn khởi. Hội đồng khoa học được thành lập,
xác định nội dung, phương hướng nghiên cứu. Từ những năm 1960-1961 nhà trường đã
sớm quan tâm tới nghiên cứu khoa học, tổ chức ứng dụng vào thực tiễn.
Cơ sở vật chất của trường cũng từng bước được bổ
sung thêm. Địa bàn của trường được mở rộng gồm 3 khu: Cầu giấy, Voi phục, Láng.
Thư viện của trường lúc đầu chỉ có vài chục cuốn sách đến năm 1964-1965 đã có
trên 20.000 cuốn, trong đó 60% bằng tiếng Việt. Xưởng Thực hành được thành lập
năm 1962.
Trong 5 năm ( 1960-1965) trường Đại học Giao
thông vận tải đã trưởng thành nhiều mặt, mọi hoạt động của trường đi vào nền nếp
ổn định, đã đào tạo được 555 kỹ sư kỹ thuật và cán bộ quản lý kinh tế. Nhiều
phong trào thi đua sôi nổi trong học tập, giảng dạy đã được phát động và mang
lại hiệu quả thiết thực. Nhà trường là trường đầu tiên được Bộ Đại học tặng cờ
“Trường Tiên tiến” của Bộ. Bộ môn Cầu được Chính phủ công nhận là đơn vị “ Lao
động xã hội chủ nghĩa” và tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.
Năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
dân tộc ta bước sang giai đoạn khó khăn, ác liệt. Theo lệnh của Trung ương,nhà
trường nhanh chóng triển khai đưa toàn bộ cán bộ, giáo viên, công nhân viên và
sinh viên đi sơ tán lên vùng núi Mai Sưu huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc. Địa bàn
đóng quân cả trường trên 3 xã Trường Sơn, Bình Sơn, Hùng Sơn, về sau mở rộng
thêm 2 xã nữa là Bắc Sơn và Mai Sơn, cách nhau hàng chục km. Riêng Khoa Tại chức
sơ tán tại Hát Môn huyện Phúc Thọ, Hà Tây.
Sau khi ổn định nơi ăn ở, học tập cho 20 Bộ môn,
60 lớp học, Nhà trường bắt tay vào nhiệm vụ đào tạo, trong đó khoá 6, khoá 7,
mỗi khoá gần 1.000 sinh viên. Số lượng ngành học tăng từ 13 ngành lên 20 ngành,
trong đó có một số ngành mới như Đầu máy Đi-ê-zen, Thông tin- Tín hiệu, Kinh tế
xây dựng, Vận tải sông biển, Điện tàu thuỷ.... Trường còn tiếp nhận đào tạo 300
cán bộ quản lý B để chuẩn bị cho việc tiếp quản các đô thị miền Nam ( học trong
6 tháng). Tổng số sinh viên toàn trường lúc này có 3.100 người. Nhà trường còn
tổ chức các phân Khoa, liên trạm dọc theo tuyến giao thông khu Bốn, cử cán bộ
vào phụ trách tại chỗ đảm bảo học tập đều đặn cho trên 300 cán bộ vừa học vừa
làm trên tuyến lửa khu Bốn. Ngoài việc chú ý phát triển quy mô, nhà trường tập
trung từng bước nâng cao chất lượng đào tạo. Hầu hết các lớp khoá 3,4,5,6 đều
đạt kết quả học tập cao, nhiều lớp tốt nghiệp 90-95 %.
Cùng với nhiệm vụ đào tạo, công tác nghiên cứu
khoa học được coi là nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn này. Sau khi Ban Nghiên
cứu khoa học được thành lập, nhiều tổ môn, nhiều giáo viên đã đã tích cực tham
gia nghiên cứu khoa học. Trong thời gian sơ tán đã tiến hành trên 50 đề tài,
trong đó có những công trình thiết thực phục vụ sản xuất, chiến đấu.
Nhờ sự cố gắng không mệt mỏi, nhiều tập thể nhiều
năm liền được công nhận là Tập thể lao động xã hội chủ nghĩa ( Tổ môn Cầu, Đường
bộ, Sức bền vật liệu, Đầu máy, Toa xe, Vận tải sắt,Vật lý). Nhiều cán bộ, giáo
viên, công nhân viên liên tục là Chiến sỹ thi đua. Trước yêu cầu của thực
tiễn và sự phát triển cả về quy mô và ngành nghề đào tạo, ngày 23 tháng 7 năm
1968, Thủ tướng Chính phủ có quyết định tách Trường Đại học Giao thông vận tải
thành 2 trường: Trường Đại học Giao thông Đường sắt- Đường bộ ở Hà Nội và Phân
hiệu Đại học Đường thuỷ ở Hải Phòng. Khi đó Trường Đại học Giao thông Đường sắt-
Đường bộ còn 5 Khoa, 16 ngành học với trên 3.000 sinh viên, 600 cán bộ, giáo
viên, công nhân viên. Toàn trường sôi nổi phong trào thi đua học tập, tranh
thủ mọi thời gian ban ngày để học, thời gian ban đêm để mạn đàm, trao đổi, vừa
làm vừa học, lập ra từng đôi bạn giúp đỡ nhau học tập. Khoa Cơ khí có phong trào
kết nghĩa giữa lớp cũ và lớp mới cùng ngành nghề để trao đổi kinh nghiệm, tổ
chức “Khối máy đỏ” đã đem lại nhiều tác dụng, thúc đẩy nhau học tập.Đoàn Thanh
niên có phong trào “ Dũng sỹ học tập”, tổ chức hội nghị dạy tốt, học tốt từ các
lớp, các khoa đến toàn trường.
Phát huy truyền thống vừa học vừa làm của những
năm trước đây, trên 160 giáo viên, 1.500 sinh viên các khoá 6,7,8 có mặt trên
nhiều công trường, xí nghiệp, các tuyến giao thông bị địch đánh phá, tham gia
làm nhiệm vụ khôi phục, đảm bảo giao thông, giúp nhân dân sản xuất, chiến đấu.
Từ năm 1966 đến năm 1971, Nhà trường đã động viên trên 150 sinh viên, giáo viên,
công nhân viên lên đường đi chiến đấu; trong đó có nhiều sinh viên tham gia các
binh chủng Công binh, Hải quân, Không quân, đã lập được những thành tích xuất
sắc.
Nhà trường được Bộ Đại học- THCN công nhận là
trường Tiên tiến 2 năm học liền (1965-1966 và 1966-1967). Năm 1969, Nhà trường
được Bộ Giao thông vận tải tặng Cờ thi đua “Trường khá nhất”, được Trung ương
Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.
Năm 1968, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phải ngồi
vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pa-ri, chấp nhận ngừng ném bom phá hoại miền Bắc.
Tháng 9 năm 1968, nhà trường rời Mai Sưu về Hà Nội. Riêng sinh viên năm thứ nhất
và năm thứ hai (khoá 9, 10) do Khoa Cơ bản phụ trách tiếp tục ở lại đến tháng 7
năm 1971 mới về hẳn.

Quang cảnh Nhà trường những ngày đầu về Hà Nội
Về đến Hà Nội, một số cơ sở trường lớp cũ bị phá dỡ trong chiến tranh hoặc bị
cơ quan khác chiếm dụng, nhà trường phải bắt tay ngay vào xây dựng cơ sở trường
lớp để tổ chức giảng dạy, học tập. Một số điểm vệ tinh như Định Công, Tây Tựu,
Xuân Đỉnh, Gia Quất phải được sử dụng trong khi nhà trường làm thủ tục xin kinh
phí xây dựng nhà học 5 tầng và một số nhà vĩnh cửu phục vụ cho sự phát triển của
Nhà trường trong những năm tiếp theo.
Thực hiện phương châm chỉ đạo chung, vừa lo tiếp tục giảng dạy, học tập, Nhà
trường tổ chức cho cán bộ, sinh viên khoa Công trình thành đoàn “D71” đi làm
nhiệm vụ khảo sát thiết kế tuyến đường bộ Tây Nghệ An, đường vào mỏ A-mi-ăng
Vĩnh Phú. Năm 1972, do đế quốc Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, Nhà trường phải sơ
tán đến hai xã Thanh Thuỷ và Hồng Dương ( Huyện Thanh Oai- Hà Tây). Đến nơi, một
mặt vừa khẩn trương tổ chức ổn định nơi ăn ở, triển khai ngay việc giảng dạy học
tập và tổ chức từng đợt ra quân đi phục vụ đảm bảo giao thông, làm nhiệm vụ tiếp
cứu, sửa chữa cầu đường, phương tiện, kho tàng, nối lại đường dây thông tin liên
lạc, vận tải... trên 60 địa điểm thuộc các tỉnh thành Hà Nội, Lạng Sơn, Hà Bắc,
Bắc Thái, Vĩnh Phú, Ninh Bình, Thanh Hoá... 1.500 cán bộ, thày trò trong 3 tháng
đã lao động trên 3 vạn ngày công, khảo sát, thiết kế 28 cầu tạm, 12 định hình
cầu có khẩu độ 12- 24 m, bảo dưỡng, sửa chữa nhiều cầu chính, hơn 10 km đường
sắt, tham gia thi công toàn bộ tuyến đường Kép- Đông Anh- Thái Nguyên, láng nhựa
nâng cấp 20 km đường 1B, bảo dưỡng gần 100 máy thi công và phương tiện vận tải,
thi công 10 km cáp ngầm và đường dây thông tin, vận chuyển 4 vạn tấn hàng ở Lạng
Sơn và ga Kép, thi công ứng cứu đảm bảo thông xe kịp thời các cầu Việt Trì, sông
Sỏi, Trà vườn, Thịnh kỷ, Đa phúc... và hoàn thành hơn 10 đề tài nghiên cứu khoa
học. Đế quốc Mỹ ngày càng đánh phá ác liệt, Trường lại chuyển địa điểm sơ tán từ
Thanh Oai- Hà Tây sang các xã Mễ Sở, Liên Nghĩa- huyện Văn Giang- Hưng Yên.
Trong gian nan, thử thách khắc nghiệt, cán bộ, giáo viên, công nhân viên và sinh
viên của trường đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, vượt qua khó khăn, lập nhiệu
thành tích trong đào tạo cũng như phục vụ sản xuất và chiến đấu, được Bộ Giao
thông vận tải tặng cờ “Trường khá nhất” năm học 1971-1972, Quốc hội và Chính phủ
tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì (tháng 4 năm 1973).
Đầu năm 1973, trường trở về Hà Nội. Về đến Hà Nội, toàn trường bắt tay vào ổn
định nơi ăn ở, học tập tại khu Cầu Giấy. Toàn trường nhanh chóng sửa chữa, củng
cố nơi ở, học tập, mua sắm trang thiết bị, mở rộng phạm vi hoạt động của Thư
viện, Xưởng Thực tập, phòng thí nghiệm... Trước tình hình cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước đang có những bước phát triển lớn mạnh, Nhà trường đã chủ động đề
nghị với Bộ Giao thông vận tải và Bộ Quốc phòng để thày và trò tham gia xây dựng
tuyến đường Đông Trường Sơn. Được sự nhất trí của Trung ương, Nhà trường đã phối
hợp với Bộ Tư lệnh Trường Sơn, đưa 119 giáo viên và sinh viên khoa Công trình (
gồm các lớp Đường bộ khoá 9 và khoá 10) với phiên hiệu “Đội TS 73” đi làm nhiệm
vụ khảo sát, thiết kế tuyến đường Trường Sơn, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,
được Bộ Đại học và THCN tặng bằng khen, Bộ Tư lệnh Trường Sơn tặng cờ “Mở đường
thắng lợi”.
Nhà trường tiếp tục phương châm mở rộng quy mô đào tạo và đẩy mạnh công tác
nghiên cứu, truyền bá khoa học, mỗi năm trung bình có từ 30 – 50 đề tài nghiên
cứu. Hình thức nghiên cứu theo hợp đồng được mở rộng. Công tác nghiên cứu khoa
học trong sinh viên đã phát triển trong nhiều lớp, từng bước trở thành một hoạt
động có nề nếp.
Tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em, hoạt động đối ngoại của Trường đã
đạt được những kết quả nhất định. Các nước như Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp
Khắc, CHDC Đức... đã giúp đỡ, cộng tác với Nhà trường trong việc đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, cử chuyên gia sang giúp, trao đổi học tập, sách báo.
Sau năm 1975, cả nước hoàn toàn độc lập, thống nhất. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, nhân dân ta bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả
nước. Điều kiện kinh tế- xã hội có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng không ít
khó khăn.
Trong 2 năm 1975, 1976, Nhà trường sắp xếp lại tổ chức trên quy mô lớn và
đồng bộ. Ngoài việc cung cấp 30 cán bộ cho miền Nam, tiến hành đề bạt, thuyên
chuyển, thay đổi chức danh nhiều cán bộ Trưởng, Phó Phòng, Ban, Khoa, Xưởng,
hình thành một đội ngũ cán bộ nòng cốt đủ mạnh, đảm đương nhiệm vụ mới.
Năm 1984, trường chuyển về Bộ Đại học và THCN ( Nay là Bộ Giáo dục và Đào
tạo) quản lý. Năm 1985, trường được đổi tên thành Trường Đại học Giao thông vận
tải.
Từ năm học 1975-1976 trở đi, sự nghiệp đào tạo của Nhà trường từng bước ổn
định và có bước phát triển mới. Thày và Trò tiếp tục thực hiện chủ trương “Giảng
dạy, học tập kết hợp với phục vụ” như tổ chức cho sinh viên khoá cuối đi làm
nhiệm vụ thực tập khảo sát thiết kế tuyến đường biên giới Việt - Trung và bảo vệ
tốt nghiệp tại hiện trường, tham gia lao động đắp đê sông Đáy, tham gia xây dựng
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cử nhiều đoàn cán bộ kỹ thuật, kỹ sư vào giúp các Ty
Giao thông phía Nam, tổ chức đoàn công tác “TN76” tham gia thiết kế, thi công
xây dựng đường sắt Thống Nhất đoạn Đà Nẵng- Phù Mỹ với chiều dài 250 km… Qua
hoạt động thực tiễn tại hiện trường đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực, nâng
cao chất lượng đào tạo và góp phần phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng của
đất nước.
Cùng với việc đào tạo cán bộ có trình độ Đại học, từ năm học 1978- 1979,
trường bắt đầu tổ chức việc bồi dưỡng Sau Đại học. Năm học 1980- 1981, Trường
chính thức được Nhà nước công nhận là cơ sở đào tạo NCS với 9 chuyên ngành ( sau
nâng lên thành 11 chuyên ngành). Nhiều NCS của Trường đã bảo vệ thành công Luận
án Phó Tiến sỹ, trong đó có NCS người nước ngoài đầu tiên là Bua-xỉ Lò-Văn-Xay
(nước CHDCDN Lào).
Thực hiện nghị quyết 14 NQ-TW ngày 11/10/1979 của Bộ Chính trị về cải cách
giáo dục, từ năm học 1987- 1988 trở đi, quy mô ngành nghề và hình thức đào tạo
của trường đã có sự thay đổi theo hướng đa dạng hoá các loại hình và mềm hoá quá
trình đào tạo cho phù hợp với với yêu cầu của cơ chế thị trường trong nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần. Trên cơ sở đó, Nhà trường đã nghiên cứu và xây
dựng được danh mục ngành nghề đào tạo gồm 7 ngành với 23 chuyên ngành; tổ chức
đào tạo đại học dài hạn theo hệ chuẩn và áp dụng quy trình đào tạo 2 giai đoạn.
Cũng từ năm học 1987- 1988, Nhà trường từng bước chuyển việc tổ chức quá trình
đào tạo từ niên chế thuần tuý sang học chế học phần kết hợp với niên chế. Ngoài
hệ dài hạn, chuyên tu, chuyển cấp, dự bị đại học... đã có từ trước, Nhà trường
mở thêm một số loại hình đào tạo khác như hệ mở rộng, ngắn hạn; đào tạo tại chức
theo hình thức hợp đồng với địa phương và cơ sở sản xuất, đồng thời nhận nhiệm
vụ đào tạo cán bộ KHKT về GTVT cho Cam-pu-chia. Để đào tạo cán bộ phục vụ phát
triển GTVT các tỉnh phía Nam, tháng 4 năm 1990 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho
phép Trường thành lập Cơ sở II tại Thành phố Hồ Chí Minh với nhiệm vụ đào tạo
cán bộ có trình độ đại học về xây dựng giao thông, cơ khí giao thông, điện khí
hoá giao thông, kinh tế vận tải, bưu chính viễn thông và tổ chức NCKH, chuyển
giao công nghệ trong lĩnh vực GTVT, bưu chính- viễn thông vào thực tiễn sản xuất
tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
Công tác nghiên cứu khoa học trong giai đoạn này có được những điều kiện
thuận lợi để có bước phát triển mới. Qua nhiều năm giảng dạy, nghiên cứu, lực
lượng cán bộ khoa học ngày càng đông đảo. Kế hoạch, phương hướng nghiên cứu được
gắn liền với yêu cầu giảng dạy và thực tiễn của ngành, mỗi năm trung bình có từ
30- 50 đề tài nghiên cứu. Nhiều đề tài có giá trị được ứng dụng vào thực
tiễn.
Cùng với việc đẩy mạnh công tác đào tạo, NCKH, Nhà trường cũng khẩn trương
bắt tay vào xây dựng cơ sở vật chất theo hướng ổn định và lâu dài. Ngay từ năm
1975- 1976, Nhà trường đã xây dựng quy hoạch trên cả 3 khu đất của Trường ( Cầu
Giấy, Voi Phục, Láng), củng cố nhà cũ, bố trí sắp xếp lại nơi ăn ở, làm việc,
học tập; sửa sang mặt bằng, đường đi lối lại, mở rộng Thư viện, xưởng thực tập,
xây dựng nhà học 5 tầng...Các phòng thí nghiệm, mô hình cũng được mở rộng.
Công tác đối ngoại kể từ sau năm 1975 dần đi vào ổn định và phát triển.
Trường đã đặt mối quan hệ hợp tác với các trường như: Đại học Đường sắt Mát-xcơ-
va và viện IPK ( Liên Xô), Đại học Kỹ thuật Darmstard và Đại học Giao thông
Dresden (Đức), Trường Quốc gia Cầu- Đường Pa-ri và Viện INSALYON( Pháp)....
Trường cũng đã nhiều lần cử các đoàn cán bộ sang các trường bạn làm nghiên cứu
sinh, thực tập sinh để nâng cao trình độ chuyên môn. Bước sang thời hỳ đổi
mới, Nhà trường chủ trương: “Tiếp tục đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình
nhằm mục tiêu đào tạo những điều mà nền kinh tế xã hội cần có ở người học và
từng bước mở rộng quy mô đào tạo phù hợp với khả năng của Nhà trường, đồng thời
đáp ứng được nhu cầu cán bộ khoa học của ngành GTVT”. Với chủ trương đó, quy mô
đào tạo tăng khá nhanh, số lượng sinh viên tuyển vào hàng năm tăng khoảng 30%.
Từ năm học 1994- 1995, tyhực hiện chủ trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo chuyển
trọng tâm cải cách giáo dục sang đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và
phương pháp giảng dạy, Các Hội đồng ngành và Hội đồng chuyên ngành đã tiến hành
xây dựng mục tiêu, kế hoạch đào tạo theo diện rộng; thực hiện mềm hoá nội dung
chương trình bằng cách xây dựng 3 loại học phần: bắt buộc, tự chọn theo hướng
dẫn và tuỳ ý, Trường đã xây dựng xong chương trình đào tạo giai đoạn 2 cho 12
ngành với 23 chuyên ngành, biên soạn đề cương chi tiết cho 1.620 đơn vị học
trình; dần chuyển việc đào tạo theo học chế học phần kết hợp với niên chế sang
học chế học phần triệt để. Từ năm học 1998- 1999, thực hiện quyết định của Bộ về
bỏ quy định cứng trong đào tạo 2 giai đoạn, Hội đồng Khoa học và Đào tạo trường
nhanh chóng xây dựng nội dung, chương trình đào tạo mới; đã hoàn chỉnh chương
trình đào tạo cho 10 ngành với 27 chuyên ngành, 7 chương trình đào tạo bằng 2, 6
chương trình đào tạo chuyển đổi từ ngắn hạn sang dài hạn, 2 chương trình chuyển
đổi từ Cao đẳng lên Đại học, đồng thời bước đầu áp dụng công nghệ mới trong đào
tạo như: Đào tạo theo học phần triệt để cho 2 ngành Cơ khí và Công trình, tổ
chức thi theo phương pháp “Trắc nghiệm khách quan” cho một số môn học. Từ năm
1999 đến nay, Nhà trường tiếp tục thực hiện việc mở rộng quy mô đào tạo, bằng
những biện pháp mềm dẻo, linh hoạt như tuyển sinh theo điểm chung, phân ngành
cho SV ngay sau khi nhập học...Nhà trường đã tổ chức một số lớp có chất lượng
cao như các lớp Cầu Đường tiếng Pháp, Cầu Đường tiếng Anh. Đào tạo tại chỗ được
ưu tiên cho các địa phương thuộc vùng sâu vùng xa hoặc các đơn vị có nhu cầu cấp
thiết về cán bộ KHKT . Ngoài các loại hình đào tạo đã ổn định, Nhà trường còn mở
thêm nhiều hình thức mới như đào tạo lại, đào tạo chuyển giao công nghệ, tổ chức
các lớp đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ ngành GTVT Việt Nam, thực hiện đề
án đào tạo 2 giai đoạn với Trường ĐH Kỹ thuật Tổng hợp Giao thông Mat-xcơ-va (
MIIT)…Chất lượng đào tạo được đảm bảo, sinh viên của trường tốt nghiệp ra trường
có chuyên môn vững, khả năng thích ứng nhanh, được các đơn vị sử dụng lao động
chấp nhận.
Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo đại học, đào tạo sau đại học cũng có
bước phát triển mới. Từ năm học 1992- 1993, Nhà trường đã tiến hành xây dựng
chương trình đào tạo Cao học cho 3 nhóm ngành: Cơ khí giao thông, Xây dựng Công
trình giao thông và Quản trị kinh doanh GTVT. Từ năm học 1993- 1994, Trường bắt
đầu đào tạo hệ Cao học. Các Hội đồng ngành cũng tiến hành xây dựng chương trình
đào tạo Tiến sỹ gồm 14 chuyên ngành.
Công tác nghiên cứu khoa học tiếp tục có những bước phát triển rất đáng phấn
khởi. Mỗi năm, Trường tiến hành nghiên cứu nhiều đề tài cấp Nhà nước, 30- 40 đề
tài cấp Bộ và cấp Bộ trọng điểm, 30- 40 đề tài cấp trường. Chất lượng các đề tài
nghiên cứu ngày càng được nâng cao, nhiều đề tài đã đạt giải thưởng cao như 2
giải Nhất Giải thưởng công nghệ Quốc gia (VIFOTEC) năm 1996, 1997 . Nhiều đề tài
được áp dụng vào thực tiễn và mang lại hiệu quả lớn đối với sản xuất . Các đề
tài nghiên cứu cũng góp phần quan trọng để bồi dưỡng đội ngũ, nâng cao năng lực
quản lý Nhà trường. Số lượng đề tài NCKH của sinh viên không ngừng tăng, hàng
năm có từ 200- 300 đề tài nghiên cứu có chất lượng tốt, thu hút hàng nghìn sinh
viên tham gia.
Đội ngũ Giảng viên và Cán bộ quản lý của trường không ngừng được bổ sung cả
về số lượng lẫn chất lượng. Hàng năm, nhà trường tuyển mới hàng trăm Giảng viên;
gửi đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng sư phạm ở trong nước và ở
nước ngoài. Cơ sở vật chất của Nhà trường trong giai đoạn này có những bước
phát triển vượt bậc. Từ một giảng đường 5 tầng duy nhất được xây dựng vào đầu
những năm đất nước thống nhất, đến nay, hệ thống phòng học của trường đã tương
đối hoàn chỉnh; xoá bỏ hoàn toàn phòng học cấp 4 . Trang thiết bị thí nghiệm
được bổ sung, nâng cấp theo hướng hiện đại hoá, đã có được một số phòng thí
nghiệm đồng bộ, đạt tiêu chuẩn quốc gia. Điều kiện làm việc của CB-GV-CNV được
cải thiện. Các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao được tổ chức thường xuyên
với nhiều hình thức phong phú. Nhà trường thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở,
từng bước thực hiện cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
trong công tác. Trong 45 năm qua, nhất là trong 20 năm đổi mới trong điều
kiện hết sức khó khăn, nhưng trường Đại học Giao thông Vận tải đã phấn đấu không
ngừng, vượt qua các khó khăn, thử thách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã tạo
được những bước tiến mang tính đột phá và đạt được nhiều thành tích trong các
lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, quan hệ quốc tế, xây dựng đội ngũ, xây
dựng cơ sở vật chất, thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, tạo nên những nền tảng vững chắc để đưa trường đi lên trong
thời kỳ đổi mới. Có được thành quả trên là nhờ sự đoàn kết nhất trí, năng động
sáng tạo, dám nghĩ dám làm và dám chịu trách nhiệm vượt qua khó khăn của các thế
hệ Thầy, Cô giáo, CB- CNV và các thế hệ Sinh viên. Hàng vạn sinh viên tốt nghiệp
ra trường, đã cống hiến tài năng, trí tuệ góp phần phát triển nền kinh tế quốc
dân. Một số đã phấn đấu trở thành những nhà khoa học đầu ngành, những cán bộ
quản lý chủ chốt ở các cơ quan, ở các địa phương đã và đang phát huy tài năng
của mình trên mọi miền đất nước.
Trong giai đoạn tới, Trường đại học Giao thông vận tải kỳ vọng trở thành một
trường đại học kỹ thuật- công nghệ tiên tiến, đa ngành, đa cấp học; có chất
lượng đào tạo cao, có đội ngũ Giảng viên và cán bộ quản lý đủ về số lượng, đảm
bảo về chất lượng; có cơ sở vật chất hiện đại; có năng lực tài chính dồi dào; có
cơ chế quản lý năng động và hiệu quả; có khả năng hợp tác và cạnh tranh tốt; sớm
tiếp cận với trình độ đào tạo của các trường đại học trong khu vực và trên thế
giới.
Với mục tiêu đó, toàn trường sẽ tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo, áp dụng học
chế tín chỉ và quy trình kiểm định chất lượng trong đào tạo; cập nhật những
chương trình đào tạo tiên tiến của thế giới dưới những hình thức phù hợp. Đẩy
mạnh chương trình xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý theo đúng chuẩn
chức danh. Cơ sở vật chất của trường tiếp tục được nâng cấp và hiện đại hoá,
trong đó tập trung xây dựng một số phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia và
quốc tế; triển khai dự án mở rộng trường tại khu vực lân cận Hà Nội.
Trường đại học GTVT hôm nay
QUYẾT ĐỊNH SỐ 332/2007/ QĐ-CTN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC CHXHCNVN PHONG
TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG CHO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

3. Cơ cấu tổ chức của Trường ĐH
GTVT
* Đội ngũ Cán bộ - Giảng viên:
- Tổng số Cán bộ- Giảng viên- Công nhân viên: 1.003 - Đảng viên: 452 -
Giảng viên: 726 - Giáo sư: 04 - Phó Giáo sư: 42 - Tiến sỹ Khoa học:
02 - Tiến sỹ: 106 - Thạc sỹ: 225 - Nhà giáo Nhân dân: 01 - Nhà giáo
ưu tú: 18
* Lãnh đạo trường hiện nay:
- Hiệu trưởng: PGS-TS Trần Đắc Sử - Bí thư Đảng uỷ- Phó Hiệu trưởng:
PGS-TS Trần Tuấn Hiệp - Chủ tịch Hội đồng trường: GS-TSKH Nghiêm Văn
Dĩnh - Phó Hiệu trưởng: GS-TS Đỗ Đức Tuấn - Phó Hiệu trưởng: TS Trần Quốc
Thịnh.
* Lãnh đạo các đoàn thể quần chúng:
- Chủ tịch Công đoàn: KS Phạm Mạnh Cường - Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh:
Th.S Nguyễn Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh: Th.S Lê Minh Cần -
Chủ tịch Hội Sinh viên: SV Trần Minh Hiển.
* Các đơn vị trực thuộc trường:
CÁC PHÒNG - BAN
| STT |
Tên
đơn vị
|
Thủ
Trưởng đơn vị |
| 01 |
Phòng
Hành chính - Tổng hợp
|
Th.S
Vũ Minh Đức
|
| 02 |
Phòng
Tổ chức - Cán bộ
|
TS
Nguyễn Duy Việt
|
| 03 |
Phòng
Đào tạo ĐH&SĐH |
PGS-TS
Nguyễn Đăng Điệm
|
| 04 |
Phòng
Khoa học - Công nghệ
|
PGS-TS
Nguyễn Văn Vịnh
|
| 05 |
Phòng
Đối ngoại |
TS
Thái Hà Phi
|
| 06 |
Phòng
Công tác chính trị và SV
|
TS
Nguyễn Thanh Chương
|
| 07 |
Phòng
Tài vụ
|
Th.S
Lã Thị Liên
|
| 08 |
Phòng
Thiết bị- Quản trị
|
Th.S
Thẩm Phú Huân
|
| 09 |
Phòng
Bảo vệ
|
Th.S
Lưu Ngọc Trung
|
| 10 |
Trung
tâm Thông tin-Thư viện |
Th.S
Nguyễn Minh Hậu
|
| 11 |
Ban
Quản lý Dự án
|
PGS-TS
Trần Tuấn Hiệp
|
| 12
|
Ban
Quản lý Giảng đường
|
KS Đào Quyết Chiến
(phụ trách ban)
|
| 13 |
Ban
Quản lý Ký túc xá
|
Thân Văn Trung
(phụ trách ban)
|
| 14 |
Ban
Quản lý Mạng và Máy tính
|
Th.S
Trần Văn Thuần
|
| 15 |
Trung
tâm ĐT thực hành-CGCN
|
Th.S
Trương Nguyễn Trung
|
| 16 |
Trạm
Y tế |
BS Nguyễn Thị Lý
(phụ trách trạm)
|
| 17 |
Xưởng
In
|
KS
Vũ Văn Dần
|
| 18 |
Cơ
sở II-TP Hồ Chí Minh
|
PGS-TS
Trần Đắc Sử |
CÁC KHOA - VIỆN
| STT |
Tên
khoa |
Trưởng
khoa |
| 01 |
Khoa
Khoa học Cơ bản
|
PGS-TS
Lê Bá Sơn
|
| 02 |
Khoa
Công trình
|
PGS-TS
Bùi Xuân Cậy
|
| 03 |
Khoa
Cơ khí |
PGS-TS
Nguyễn Văn Bang |
| 04 |
Khoa
Điện-Điện tử |
PGS-TS
Lê Hùng Lân |
| 05 |
Khoa
Công nghệ thông tin
|
TS
Trần Văn Dũng |
| 06 |
Khoa
Vận tải-Kinh tế |
PGS-TSKH
Nguyễn Hữu Hà
|
| 07 |
Khoa
Mác-Lênin, TT HCM |
TS
Nguyễn Tài Quang |
| 08 |
Khoa
Đại học tại chức |
PGS-TS
Từ Sỹ Sùa
|
| 09 |
Khoa
Giáo dục Quốc phòng |
Đại
tá-KS Đặng Thúc Huy
|
| 10 |
Bộ
môn Giáo dục thể chất
|
CN
Đinh Văn Thắng |
| 11 |
Viện
KH và Công nghệ XDGT
|
GS-TS
Phạm Duy Hữu |
| 12 |
Viện
KH và Môi trường GT |
PGS-TS
Cao Trọng Hiền
|
| 13 |
Viện
Quy hoạch và QL GTVT |
PGS-TS
Nguyễn Văn Thụ |
4. Thành tích đạt được
» 1 danh hiệu Anh hùng lao động
(2007)
» 1 huân chương Hồ Chí Minh
(2005)
» 1 huân chương độc lập hạng nhất
(2000)
» 1 huân chương độc lập hạng nhì
(1995)
» 1 huân chương độc lập hạng ba
(1986)
» 2 huân chương lao động hạng
nhất (1982 và 1990)
» 2 huân chương lao động hạng nhì
(1977 và 2004)
» 2 huân chương lao động hạng ba
(1966 và 1999)
» 1 huân chương kháng chiến hạng
nhì (1973)
» 2 huân chương tự do, 1 huân
chương lao động hạng nhất, 1 huân chương hữu nghị của nước CHDCND Lào.
» Nhiều tập thể, cá nhân trong
trường được nhận Huân, huy chương các loại.
5. Thông tin liên hệ
Trường Đại học giao thông vận tải cơ sở
I Địa chỉ : Láng Thượng - Đống Đa - Hà Nội Điện Thoại : (84.4)
7663311 Fax : (84.4) 7669613 Email : dhgt@uct.edu.vn Website:
http://www.uct.edu.vn hoặc http://www.utc.edu.vn
Trường Đại học giao thông vận tải cơ sở
II Địa chỉ : 450 Đường Lê Văn Việt - Phường Tăng Nhân Phú Quận 9 -
Thành phố Hồ Chí Minh Điện Thoại : (84.8) 8966798 Fax : (84.8)
8964736 Email : info@uct2.edu.vn Website : http://www.uct2.edu.vn
(Theo website: http://portal.uct.edu.vn)
@@@@@@@@@****************@@@@@@@@@
DIỄN
ĐÀN SINH VIÊN ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI (GTVT.VN)
Mọi thắc về trang thông tin điện tử GTVT.VN xin gửi
về:
1. BCH Đoàn Trường ĐH GTVT Địa chỉ: Trường Đại học
Giao thông Vận tải Điện thoại: 04.7664530 Bí thư Đoàn trường: Th.S
Nguyễn Mạnh Hùng
2. Ban quản trị diễn đàn Nguyễn Đức Tình Lớp Kỹ
Thuật Thông Tin K48 - Khoa Điện - Điện Tử Điện Thoại : 0985539640 Email :
info@gtvt.vn
|